Sỏi thận là bệnh đường tiết niệu chiếm tỉ lệ khá cao đối với người dân Việt Nam (theo thống kê khoảng 10% – 15% dân số). Bệnh thường gặp ở mọi lứa tuổi, trong đó những người lớn tuổi có tỉ lệ mắc bệnh cao hơn. Nguyên nhân của sỏi thận là do kết quả của sự kết tủa một số chất chứa trong nước tiểu kết tạo thành sỏi.
Sỏi thận thường xuất hiện ở các vị trí: Bể thận, niệu quản, bàng quang, niệu đạo. Những nơi sỏi thận xuất hiện thường có dòng nước tiểu bị hẹp, uốn khúc hoặc quá nhỏ.
Những tác hại của sỏi thận gây ra
Khi bị sỏi thận, tại các vị trí bị sỏi có thể bị sỏi di chuyển làm cọ sát giữa sỏi vào xung quanh gây ra việc đau lưng, các cơn đau quặn, tiểu tiện khó, có thể đái ra máu, đái ra mủ đối với những viên sỏi có gai nhọn.
Đối với sỏi xuất hiện ở bàng quang, niệu đạo, người bị sỏi sẽ thấy đái buốt, đái rắt, khó đái. Sỏi làm chèn ép bế tắc khiến những vị trí bị sỏi giản nở. Lâu ngày, các vị trí bị sỏi thận sẽ giản mỏng, căng và trướng nước tiểu. Việc này sẽ tạo ra các áp lực vào thành đường tiết niệu gây đau thắt.
Khi thay đổi vị trí của sỏi trong đường tiết niệu, việc va chạm vào thành khi tiếp xúc có thể làm bì phù nề, viêm nhiễm dẫn đến vi khuẩn xâm nhập làm nhiễm trùng đường tiết niệu. Khi đó, người bệnh thấy đái buốt, đái ra mủ, đái đục. Nếu xảy ra lâu ngày mà không chữa trị hiệu quả thì có thể dẫn tới hậu quả nghiêm trọng là suy thận.
Trong trường hợp sỏi thận làm bế tắc đường tiểu, làm thận và đường tiểu bị mủ toàn diện thì có thể phải cắt bỏ thận. Nếu bị viêm nhiễm lâu ngày đường tiểu có thể dẫn tới xơ hóa thành đường tiểu. Hậu quả của việc xơ hóa làm giảm chức năng co bóp đường tiểu, bế tắc đường tiểu.
Viêm nhiễm nặng đường tiết niệu gây ra hoại tử đường tiểu. Khi bị nặng, sẽ xuất hiện các lỗ rò ở bàng quang, niệu quản. Một số trường hợp do áp lực sỏi thận làm ứ nước dẫn tới vỡ thận, vỡ bàng quang. Sự có mặt của sỏi ở cả 2 bên niệu quản còn có thể dẫn tới hiện tượng vô niệu (không có nước tiểu do niệu quản bị sỏi thận làm tắc dòng nước tiểu).


